Lịch sử xứ Quảng – Tiếp cận và khám phá

Tựa sách: Lịch sử xứ Quảng – Tiếp cận và khám phá
Tác giả:
Chủ trì: Hội Nghiên cứu lịch sử thành phố Đà Nẵng
Nhà xuất bản Đà Nẵng – Năm 2012
Giới thiệu:
Vừa qua, Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng vừa tổ chức xuất bản quyển Lịch sử xứ Quảng – Tiếp cận và khám phá.
Cuốn sách “Lịch sử xứ Quảng – Tiếp cận và khám phá” là một tập hợp một số bài nghiên cứu của cố giáo sư Hoàng Châu Ký, Nguyễn Văn Xuân và nhiều nhà quản lý và nghiên cứu thuộc nhiều thế hệ khác nhau gắn bó với những hoạt động nghề nghiệp của Hội Sử học Đà Nẵng trong hơn một thập kỷ qua.
Sách do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành



Đề tặng của Chủ tịch Hội Lịch sử thành phố Đà Nẵng

Sách tin học

1. Mapinfo

Nghiên cứu lịch sử Xứ Quảng, Số 1 – 6 (2012)

Vừa qua, Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng vừa phát hành Nghiên cứu lịch sử Xứ Quảng, Số 1 – 6 (2012). Đặc san này của Hội ban đầu dự kiến phát hành nhân dịp đầu năm mới Nhâm Thìn. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đến nay đặc san mới giới thiệu rộng rãi đến bạn đọc.
Đây là một nỗ lực rất của Hội nhằm góp phần cho phát hiện, nghiên cứu, chia sẻ thông tin về vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa của Miền Trung.
Trong lời giới thiệu của Ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội đã nêu lên những mong muốn và khó khăn mà Hội Viên đã vượt qua “để góp mặt trong đặc san này với những nét mới trong nghiên cứu lịch sử địa phương”. Và khẳng định mục đích của người làm sử là vì “Lịch sử không bao giờ là dĩ vãng, lịch sử chỉ là quá khứ, mà quá khứ thì suy đến cùng chính là hiện tại”.
Lời giới thiệu cũng nêu một số bài viết đáng chú ý trong đặc san lần này như tiểu luận của Ngô Văn Minh về chính quyền cách mạng Đà Nẵng đối với quần đảo Hoàng Sa, của Lưu Trang và Lại Thị Huyền Trang về công nghiệp Đà Nẵng thời kỳ 1954- 1975, của Nguyễn Duy Phương về đường phố Đà Nẵng thời Pháp thuộc …

Bìa trước:

Đề tặng của Chủ tịch Hội Lịch sử thành phố Đà Nẵng

Mục lục:

Tải bản pdf tại đây

Cảm nhận về học giả Nguyễn Hiến Lê

Tuy có những điểm bất ưng về cung cách làm việc của một số cán bộ trong chính quyền mới, song Nguyễn Hiến Lê cũng rành mạch thừa nhận: “Xét chung, các học giả miền Bắc có cảm tình với tôi; chính quyền đối với tôi cũng có biệt nhãn”. Ông cũng trung thực ghi lại lời khuyên của học giả Đào Duy Anh với ông: “Ông khuyên tôi nên coi cán bộ ở bưng về như con cháu mình, tìm hiểu họ chứ đừng trách họ. Họ gian lao chiến đấu cả chục năm, nay thành công thì tất nhiên muốn được hưởng lạc, muốn được nắm quyền và tin chắc rằng chính sách của họ đúng, phải có tin như vậy mới làm việc được. Họ ít được học, không có kinh nghiệm hành chánh, cho nên phải dò dẫm…”.

Tự bạch Nguyễn Hiến Lê

Văn thơ phải tự nhiên, cảm động, có tư tưởng thì mới hay. Ở Trung Hoa, thơ Lý Bạch, văn Tô Đông Pha hay nhất. Ở nước ta, thơ Nguyễn Du tự nhiên, bình dị mà bài nào cũng có giọng buồn man mác.

Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.

Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như kinh Dịch nói, lúc thì âm thắng, lúc thì dương thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.

Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mươi thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.

Nhân cách của người hiền

Phan Ngọc Hiền tại bài viết Rành mạch như Nguyễn Hiến Lê đã cho thấy nhân cách của vị học giả đáng kính này nghiêm cẩn trong nghề viết văn và khách quan, rành mạch trong quan niệm sống …

Ông là tấm gương sáng về tinh thần lao động đã để lại một di sản đồ sộ, tới cả trăm cuốn sách có giá trị về nhiều mặt. Ông cũng là một nhân sĩ đáng trọng bởi dù ở hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ được một cách nhìn nhận vấn đề khách quan, trung thực. Điều đặc biệt ở học giả Nguyễn Hiến Lê là không chỉ trong việc viết mà trong cuộc sống đời thường, ông luôn sòng phẳng, rành mạch thể hiện thái độ, quan niệm sống của mình…

1.Trong đời mình, cả hai lần học giả Nguyễn Hiến Lê được chính quyền Sài Gòn đề nghị trao giải Tuyên dương sự nghiệp văn học, nghệ thuật thì cả hai lần ông đều từ chối không nhận. Trả lời thắc mắc của một số bạn hữu, Nguyễn Hiến Lê cho hay: “Nguyên tắc của tôi là không nhận một vinh dự gì do một chính quyền tôi không trọng ban cho”. Được biết số tiền dành cho giải thưởng bấy giờ rất cao, lên tới 1.000.000 đồng, tương đương với 25 lượng vàng.

Xác định điều hữu ích lớn nhất mà mình có thể đóng góp cho đời là việc cầm bút, Nguyễn Hiến Lê đã kiên quyết gạt bỏ những việc làm mà ông cho là vô bổ, mất thời gian, ảnh hưởng tới nghiệp viết của mình. Một lần, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu mời Nguyễn Hiến Lê tham gia Hội đồng Giáo dục toàn quốc, ông nhất mực thoái thác với lý do: Việc đề nghị cải tổ giáo dục ông đã có bài đăng trên tạp chí Bách khoa từ năm 1962. Giờ ông không có gì để nói thêm. Vả chăng, đang trong tình hình chiến tranh, có bàn thế chứ bàn nữa cũng chỉ… mất thời giờ. Một lần khác, có vị Bộ trưởng trong chính phủ Sài Gòn cho nhân viên đến mời ông tới “tư dinh” của ông ta nói chuyện riêng, ông đã thẳng thừng cật vấn người này: “Ông ấy lấy tư cách gì mà mời tôi như vậy? Tôi không thuộc quyền ông ấy. Nếu ông ấy mến tôi là nhà văn thì sao lại mời tôi lại thăm ông ấy?”. Lại có lần, Nguyễn Hiến Lê đã không thèm trả lời thư riêng của một vị Bộ trưởng chỉ vì vị này, trong thư gửi ông đã để một viên thư ký… ký thay.

2. Nguyễn Hiến Lê từng tâm sự rằng, hồi trẻ, khi viết văn, ông hơi mắc bệnh khoa trương. Sau này tuổi càng lớn, ông càng trân trọng sự bình dị. Những gì viết trước đây, nếu chưa kịp in thì ông cũng chỉ giữ lại làm kỷ niệm, chứ không cho in lại nữa. Ông ngượng.

Trọng sự bình dị, ông còn trọng cá tính của mình nữa. Một lần, có nhà biên tập sau khi đọc đoạn văn ký sự của ông, đã cất công đảo câu văn lên, câu văn xuống, cắt tỉa, thêm bớt cho “có nhạc hơn”. Ông khen người nọ “sửa khéo” nhưng khi đưa in bài viết, ông giữ nguyên đoạn văn ông viết vì thấy phải nói như thế mới tự nhiên, mới đúng ý, đúng cảm xúc của mình.

Đa phần các sách của Nguyễn Hiến Lê đều bán chạy, song có những đề tài ông biết rất ít người đọc, nhưng vì ông thích, ông vẫn cứ viết. Như cuốn “Một niềm tin”, chỉ được in có hơn nghìn bản mà tới gần chục năm sau sách vẫn chưa tiêu thụ hết.

Khi dịch sách, Nguyễn Hiến Lê thường chọn những cuốn mà bút pháp của tác giả không trái với bút pháp của ông, nghĩa là phải bình dị, tự nhiên. Ông tâm sự ông thích sách của Lev Tolstoy, Somarset Maugham. Dịch “Chiến tranh và hòa bình” của Tolstoy, mặc dù nhận thấy bộ sách “rất dài và có nhiều chương lý thuyết về lịch sử đọc chán lắm”, nhưng ông vẫn dịch trọn, không để sót một dòng. Quan điểm của ông về vấn đề này rất rạch ròi: “Tôi nghĩ tác phẩm đó lớn quá, nước mình nên có một bản dịch đầy đủ, rồi sau muốn phổ biến rộng thì sẽ cắt bớt”.

Nhắc tới các sách dịch của Nguyễn Hiến Lê, độc giả thường nhớ nhiều tới hai cuốn “Quẳng gánh lo đi và vui sống” và “Đắc nhân tâm” của Dale Carnegie. Đây là một tác giả có những quan điểm về xử thế mà Nguyễn Hiến Lê rất tâm đắc, song vẫn có chỗ ông thẳng thắn bày tỏ quan điểm không đồng thuận. Như trong bài viết “Nhân sinh quan của tôi”, Nguyễn Hiến Lê đã nêu ý kiến: “Nên trọng dư luận nhưng không nên nhắm mắt theo dư luận. Biết đắc nhân tâm nhưng cũng có lúc phải tỏ nỗi bất bình của mình mà không sợ thất nhân tâm”.

3. Là người có lối nghĩ Tây học, tân tiến, song Nguyễn Hiến Lê vẫn không sao dung nạp được cách sống tự do thái quá, xem nhẹ sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình như ở một số nước Âu, Mỹ. Ông kể: “Người Âu Mỹ, khi lớn rồi thì ra ở riêng, cả tháng, có khi cả năm không lại thăm cha mẹ một lần; cha mẹ già thì đưa vào viện dưỡng lão”. Ông cũng than phiền về một nghịch lý trong xã hội Việt Nam, ấy là việc “người già phải giữ cháu cho con, sắp hàng mua thực phẩm cho con, nấu cơm cho con. Mấy bạn già của tôi cũng phàn nàn phải làm “vú đực” cho cháu”.

Năm 1965, một người con trai của Nguyễn Hiến Lê tên là Nhật Đức (khi ấy đang sống và làm việc tại Pháp) đã bất ngờ xin phép bố mẹ cho được kết hôn với một phụ nữ Pháp. Nguyễn Hiến Lê nghe tin vậy thì rất giận. Biết tính con trai đã làm gì là quyết làm bằng được nên ông không… cấm, song cũng nhất định không can dự vào việc này, để hai mẹ con tự lo. Mấy năm sau, người con trai này kêu cầu mẹ mình ở lại Paris trông nom con cái giùm vì hai vợ chồng đang làm thủ tục… ly dị. Nhận được tin con, đầu Nguyến Hiến Lê như bốc hỏa. Ông nhắn cho vợ: “Bảo nó trước kia đã tự ý lựa vợ, tự mưu hạnh phúc cho nó, bất chấp ý kiến cha mẹ thì bây giờ nó cũng phải chịu lấy hậu quả của sự quyết định của nó, chứ tại sao lại cầu cứu tới má nó, bắt má nó bỏ nhà, bỏ cửa công việc dạy học bên đây, làm vú em cho con nó rồi bắt lây cô Liệp (vợ sau của Nguyễn Hiến Lê – PNH) bỏ nhà cửa ở Long Xuyên mà lên đây săn sóc cho tôi”. Ông mắng con là đã Âu hóa quá mau, chỉ thờ cá nhân chủ nghĩa, “không biết tới gia đình, không còn tình của con người nữa”.

Vậy nhưng sau này, khi người con trai nói trên của Nguyễn Hiến Lê đã ly dị vợ rồi, và bà vợ đầu của ông cũng đã ổn định cuộc sống ở Pháp, trong khi cuộc sống trong nước thì đói kém, Nguyễn Hiến Lê lại thấy: Hóa ra, trong cái rủi có cái may. Từ đó, ông quay sang ân hận vì mình đã quá nóng nảy với con. Ông tâm sự: “Đời nó như bị cái gì đó chi phối, nó tưởng nó làm chủ tương lai của nó được, tự tạo hạnh phúc được mà rồi nó thất bại… Kinh nghiệm của cha mẹ không giúp gì được cho con thì tôi còn rầy con tôi làm chi nữa”.

Đối chiếu việc đam mê viết sách của mình với trách nhiệm gia đình, Nguyễn Hiến Lê cũng không khỏi có phút ngẫm ngợi: “Viết đối với tôi như một môn tiêu khiển rẻ tiền nhất. Nhưng đôi khi tôi ân hận rằng vì tôi chúi đầu vào sách, vợ con tôi nhiều lúc cũng thấy chán”.

4. Sau ngày giải phóng miền Nam, mặc dù vợ con đang sống ở Pháp và Nguyễn Hiến Lê hoàn toàn có đủ điều kiện để sang đó định cư theo con đường hợp pháp, song ông vẫn chọn phương thức ở lại trong nước. Một số văn nghệ sĩ ngoài Bắc và nhà văn tham gia kháng chiến ở bưng biền đã tìm đến thăm ông, hỏi han sức khỏe và tình hình công việc. Nguyễn Hiến Lê tiếp chuyện họ một cách lịch sự, cầu thị, song không vồ vập. Đặc biệt, tiếp chuyện thì tiếp chuyện vậy chứ ông “không đáp lễ” (tức không đến thăm trả lễ) ai cả. Ông không muốn để ai đó hiểu lầm là ông muốn ôm chân những người của “chế độ mới”.

Tuy có những điểm bất ưng về cung cách làm việc của một số cán bộ trong chính quyền mới, song Nguyễn Hiến Lê cũng rành mạch thừa nhận: “Xét chung, các học giả miền Bắc có cảm tình với tôi; chính quyền đối với tôi cũng có biệt nhãn”. Ông cũng trung thực ghi lại lời khuyên của học giả Đào Duy Anh với ông: “Ông khuyên tôi nên coi cán bộ ở bưng về như con cháu mình, tìm hiểu họ chứ đừng trách họ. Họ gian lao chiến đấu cả chục năm, nay thành công thì tất nhiên muốn được hưởng lạc, muốn được nắm quyền và tin chắc rằng chính sách của họ đúng, phải có tin như vậy mới làm việc được. Họ ít được học, không có kinh nghiệm hành chánh, cho nên phải dò dẫm…”.

Một lần, khi thấy tình hình sức khỏe của Nguyễn Hiến Lê mỗi ngày mỗi suy, một nhân viên ở Ban Tuyên huấn Thành ủy Sài Gòn đã đề nghị giới thiệu ông vào điều trị ở Bệnh viện Thống Nhất, với chế độ dành cho cán bộ cấp cao của thành phố, Nguyễn Hiến Lê đã nhất mực từ chối. Ông giải thích thái độ đó của mình: “Tôi có công gì với Cách mạng đâu mà vô đó nằm?…Vô đó người ta gọi tôi là đồng chí, tôi sẽ mắc cỡ, chịu sao nổi?”

Tượng đài văn hoá đọc

Huỳnh Như Phương trong Một tượng đài của văn hoá đọc đã viết những lời rất trân trọng đối với Nguyễn Hiến Lê. Ông là tấm gương đạo đức nghề nghiệp và lương tri của người trí thức, là tinh thần tự lực tự cường đã lập nhà xuất bản của riêng mình để hạ giá thành và xuất bản đúng lương tâm, là tấm gương tự học để trở thành nhà văn hoá ở đỉnh cao. Ông học rất cẩn trọng để viết và viết rất cẩn trọng để dạy làm người.

“Năm 1980, khi nhà văn Nguyễn Hiến Lê quyết định chuyển về ẩn dật ở Long Xuyên, có lẽ ông chưa thể hình dung rằng không đầy mười năm sau, sách của ông sẽ được in lại trang trọng và xuất hiện trên các quầy sách trong một thị trường văn học rất kén chọn độc giả. Lúc đó, nhìn dáng ông thong dong và lặng lẽ lui vào ngõ vắng, hẳn không ít người nghĩ rằng, cùng với sự rút lui của tác giả, những cuốn sách của ông cũng đã qua cái thời của nó.

Còn nhớ, số báo cuối cùng của tạp chí Bách khoa ra ngày 19-4-1975 đã đăng những bài kỷ niệm cuốn sách thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê, đánh dấu kỳ tích của một người lao động sáng tạo và học thuật. Vốn là một kỹ sư công chánh từ miền Bắc vào lập nghiệp ở miền Nam, từ năm 1952 ông mới định cư hẳn ở Sài Gòn và tập trung cho nghề văn. Nếu tính từ khi cuốn sách đầu tiên được in vào năm 1949, trong vòng 30 năm, ông đã miệt mài và nghiêm cẩn sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật, trước tác để cống hiến cho đời những cuốn sách thuộc nhiều thể loại khác nhau: sách học làm người, gương danh nhân, giáo dục, chính trị, ngữ pháp, ký sự, tiểu thuyết, kinh nghiệm viết văn…, đặc biệt là những công trình biên khảo công phu và đồ sộ về triết học.

Hồi ký của Nguyễn Hiến Lê ghi lại tinh thần làm việc say mê và tính kỷ luật của ông: mỗi ngày, ông dành thời gian để sắp xếp tài liệu, ghi chép, suy nghĩ trước khi ngồi vào bàn viết. Ông có thói quen viết vào buổi sáng và buổi chiều, còn buổi tối dành để đọc sách báo. Trung bình mỗi năm ông in ba cuốn sách, tổng cộng khoảng 900 trang. Có người kêu: thời gian ở đâu mà ông viết được nhiều vậy? Ông bảo: có gì đâu mà nhiều, tình bình quân mỗi ngày chỉ viết có ba trang chứ mấy! Viết văn, nhiều người cứ ngồi chờ cảm hứng đến. Với những người như ông thì muốn có cảm hứng, phải ngồi vào bàn và cầm bút viết ra giấy. Kiên trì, nhẫn nại, toàn tâm toàn ý, Nguyễn Hiến Lê xây dựng sự nghiệp mình như vậy. Thật là đáng trọng một nghị lực, một tính cách, một nhân cách: hơn 20 năm ở Sài Gòn ông chỉ đi ăn đám cưới bốn, năm lần; ông từ chối lời mời dạy học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn vì sợ thì giờ bị phân tán; hai lần ông lịch sự mà kiên quyết không nhận giải thưởng văn học nghệ thuật để giữ trọn sĩ khí của một nhà văn hoá độc lập với chính quyền.

Những người viết sách ngày nay học được rất nhiều ở Nguyễn Hiến Lê về đạo đức nghề nghiệp và lương tri của người trí thức. Sách của ông không tránh khỏi những thiếu sót nhất định do hạn chế lịch sử, nhưng ông không bao giờ viết điều gì trái với lương tâm, để mười năm, hai mươi năm sau phải hổ thẹn khi đọc lại. Ông luôn luôn đúng hẹn với các nhà xuất bản, cố gắng giao nộp bản thảo trong dạng thức hoàn chỉnh với tất cả khả năng của mình, không để sót những lỗi kỹ thuật vì vô ý. Mỗi lần sách được tái bản, ông đều xem lại, sửa chữa và bổ sung. Ông cẩn trọng đến mức, hồi dịch Chiến tranh và hoà bình, do tình hình chiến sự, ông đã chép tay trên giấy than thành ba bản: một đưa cho nhà xuất bản Lá Bối, một cất ở nhà và một gửi về quê, phòng bị thất lạc.

Những doanh nhân làm sách ngày nay còn có thể học ở Nguyễn Hiến Lê một tấm gương về tinh thần tự lực tự cường. Để không bị các nhà phát hành bóc lột, để góp phần làm giảm giá thành của sách, ông đã lập nhà xuất bản mang tên mình, tìm cách phân phối sách cho các đại lý và hàng tháng đi xe ôm thu hồi tiền bán sách. Sách của nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, tuy hoạt động dưới thời “thực dân mới”, nhưng cuốn nào cũng mang đậm tinh thần dân tộc, không hề có những nhan đề giật gân, câu khách và những hình bìa diêm dúa như một số cuốn sách bây giờ.

Một điều nữa góp phần khẳng định Nguyễn Hiến Lê như một tượng đài của văn hoá đọc, đó là ông đã thể hiện tấm gương tự học để trở thành nhà văn hoá ở đỉnh cao. Ở Sài Gòn thời đó, ông thường xuyên nhận được những cuốn sách mới nhập về từ Âu Mỹ, ông nắm bắt thông tin về khoa học, tư tưởng trên thế giới một cách nhạy bén, kịp thời; nhưng ông không vồ vập mà cân nhắc, chọn lọc để giới thiệu cái gì có ích cho dân tộc mình. Chưa thấy ai chê ông là người nệ cổ, cũng chưa thấy ai trách ông là người sùng ngoại, xu thời.

Nguyễn Hiến Lê từng nói, để viết ra được một cuốn sách, cần phải đọc thật nhiều sách; viết là một cách học tập, học tập để mà viết. Muốn có gì để nói với mọi người, thì trước hết mình phải nạp năng lượng tri thức và tiêu hoá năng lượng. Nhờ thế, những hạt giống được gieo trong sách mới nẩy mầm và đơm hoa kết trái.”

Nén hương thơm tưởng niệm

Tác giả Trung Thu đã kể lại trên Nguyệt san Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh tháng 9 năm 2009 về việc Tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê. Phần mộ của nhà văn hoá lỗi lạc này hiện âm thầm ít người biết tại chùa Phước Ân, gần ngã tư Cai Bường, Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Võ, tỉnh Đồng Tháp.

“Mở đầu cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê viết: “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau. Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao”. Thật không ngờ, điều cụ luôn canh cánh trong lòng, đến khi mất lại vận vào chính đời cụ.

… Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át. Tôi phải hỏi tới người thứ tư mới biết chính xác đường vào chùa Phước Ân. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1 km đường đất nữa mới tới. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Gia quyến cụ Nguyễn Hiến Lê phải cực kỳ tinh tế và hiểu ý cụ mới đem cụ về an nghỉ chốn bình yên này.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm vừa thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Một bà cụ mặc áo nâu sòng, mái tóc hoa râm xuất hiện. Biết tôi muốn tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê, bà chậm rãi trả lời. “Trong chùa này chỉ có thầy trụ trì với bà biết ông ấy thôi”.

Bà dẫn tôi vào chánh điện. Sau lớp kính mờ ảo của khung ảnh, nụ cười cụ Nguyễn Hiến Lê vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần gian, đôi mắt như thăm thẳm một niềm an lạc. Di ảnh cụ được treo bên cạnh người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi cụ mất, bà xuất gia đi tu và mong muốn được an nghỉ tại chùa Phước Ân cùng chồng.

Mộ cụ Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong khoảng 20 ngôi mộ khác. Ngôi mộ của một con người lỗi lạc nhỏ nhắn và giản dị đến nỗi bát nhang không một nén. Nhưng tôi biết, cụ rất ấm cúng khi nằm chung với toàn thể gia quyến trong một khu mộ.

Không hoành tráng lộng lẫy. Không bia đá trường cửu. Không khoa trương diễm lệ. Cụ nằm đó bên ngôi chùa trầm mặc nghe kinh kệ là một diễm phúc hiếm ai nghĩ tới. Có lẽ đây là lối đi mãn nguyện nhất đối với một tâm hồn vốn giản dị và thanh sạch.

Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có thân thích gì với cụ Lê không mà lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió. Tôi thưa thật, tôi chỉ là người đọc sách của cụ. Tôi tìm mộ cụ chỉ để thắp một nén nhang trước hương hồn cụ để tỏ lòng cảm phục. Bà… hỏi tôi rằng Cụ viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn có người nhắc đến…

Tôi cắm vào lư hương trên mộ cụ một nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay làm cay cay khóe mắt”.

Còn mãi với thời gian

P. Schneider một nhà Việt Nam học người Pháp nổi tiếng với nhiều tác phẩm mà nổi bật hơn cả là cuốn “Nguyễn Bỉnh Khiêm,… Bạch Vân Quốc ngữ thi tập” đã có bài thơ “Ngọn đèn” (L.M. Hoàng lược dịch) tặng cụ Nguyễn Hiến Lê trong lần gặp cuối cùng tác giả cuốn sách: Kinh Dịch đạo của người quân tử (viết xong năm 1978, xuất bản năm 1992)

NGỌN ĐÈN

Tặng Nguyễn Hiến Lê

Xe dừng tôi trước ngõ

“Anh bảo tôi ngồi dưới đèn

Để nhìn nhau cho rõ”

Thành phố đã khác xưa

Thay tên và đổi họ

Riêng một ngọn đèn đây

Hiểu lòng chung thuỷ đó

Vẫn ngọn đèn ngày nào

Bóng sáng tròn mờ tỏ

Ngoài kia là đêm đen

Tương lai đầy khốn khó

Thấy nhau một bận này

Tuyệt mù ngày tái ngộ.

Đêm trước đổi mới (1976-1986), mặc dù Nguyễn Hiến Lê biết rõ loại sách triết học của ông đang dịch và viết cũng như nhà sách Nguyễn Hiến Lê sẽ gặp nhiều khó khăn không thể tự xuất bản tác phẩm ít nhất “ trong mươi năm tới” nhưng ông “vẫn tiếp tục thực hiện cho xong chương trình đã hoạch định, rồi cứ để đó không bao giời in được cũng không sao”.

Viết xong cuốn Kinh Dịch, đạo của người quân tử, năm 1980 ông về lại Long Xuyên. Ông lâm bệnh và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 72 tuổi. Với nhân cách lớn, ông kịp để lại hơn 20 tác phẩm nữa sau ngày đất nước thống nhất, ngoài 100 tác phẩm trước đó.

Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê, (NXB Văn học, gần 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm xuất bản năm 2006-TX); có tại nhà sách sông Hương. Nguyễn Quang Thắng, Châu Hải Kỳ lưu giữ nhiều thông tin và trước tác về người Thầy lỗi lạc này.

Danh thơm người hiền và tác phẩm Nguyễn Hiến Lê còn mãi với thời gian.

Hoàng Kim biên soạn

Từ điển bách khoa Việt Nam

Tựa sách: Từ điển bách khoa Việt Nam (4 tập)
Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội – 2003

Kỹ thuật của người An Nam – Henri Oger

Tựa sách: Kỹ thuật của người An Nam
Tác giả: Henri Oger
Nhà xuất bản Thế giới
Giới thiệu nội dung:
Tác phẩm Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger là một công trình nghiên cứu hoàn toàn mới về văn minh vật chất của người Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong hai năm 1908-1909, tác giả đã cùng một họa sĩ người Việt đi khắp các phố phường Hà Nội cũng như vùng ngoại thành nhằm thống kê và tìm hiểu rõ sự đa dạng vô cùng của các ngành công thương nghiệp ở đây. Ông đã không bỏ qua một khía cạnh nào của cuộc sống riêng và chung lúc bấy giờ. Vì thế, ông đã tập hợp được hơn 4000 hình vẽ và ký họa.
Kỹ thuật người của An Nam là cuốn sách hiếm do sách được in với số lượng rất ít, chỉ khoảng 60 bản. Trung tâm viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội hợp tác với thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh tái bản toàn bộ tác phẩm này bằng ba thứ tiếng dưới dạng sách và ấn phẩm điện tử, với mong muốn mang đến một cuộc sống mới cho công trình tư liệu gốc trước đây. Lần tái bản này có bổ sung bản dịch ra chữ quốc ngữ tất cả những chú thích được viết bằng chữ Hán Nôm.
Báo chí giới thiệu:
Tập sách là công trình nghiên cứu về kỹ thuật của người An Nam trong đời sống người dân Hà Nội và Bắc kỳ lúc bấy giờ, với khoảng 4.200 tranh vẽ và tranh khắc gỗ, cùng các bài viết nghiên cứu của tác giả.
Các nhóm nội dung kỹ thuật An Nam được đề cập trong tập sách bao gồm: nghề lấy nguyên liệu từ thiên nhiên (nghề nông, đánh cá, săn bắn, hái lượm), nghề chế biến nguyên liệu lấy từ thiên nhiên (giấy, kim loại quý, gốm, sắt tây và thiếc, gỗ, vũ khí, tre, mây, chế biến cây quả, vải sợi, tơ lụa, lông, da, sắt, đồng), nghề dùng nguyên liệu đã qua chế biến (buôn bán, đá, mẫu và đồ trang trí, tô vẽ và tranh sơn mài, điêu khắc và tạc tượng, đồ thờ, nấu ăn, may mặc, xây dựng, đồ nội thất, công cụ, dụng cụ, máy, mứt và bánh ngọt), đời sống riêng và đời sống cộng đồng của người dân An Nam (đời sống cộng đồng, đời sống tình cảm, nhạc dụ, phép thuật và bói toán, các phép trị liệu dân gian, tết và lễ, trò chơi và đồ chơi, cử chỉ, đời sống ngoài phố, nghề bán rong, tranh dân gian).
Công trình này có ý nghĩa quan trọng, bởi nghiên cứu về kỹ thuật, nghề nghiệp của người An Nam thời đầu thế kỷ 20 như vậy là rất hiếm hoi. Ðây cũng là nội dung nghiên cứu để tìm hiểu bối cảnh sống của người Việt thời bấy giờ của các chuyên ngành xã hội học, dân tộc học, và ngay cả các ngành nghệ thuật ngày nay cũng rất cần các hình ảnh này trong một số ứng dụng tạo hình hoặc trình diễn cần thiết.
Henri Oger thực hiện công trình này vào độ tuổi hai mươi, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự của nước Pháp lúc bấy giờ. Với quan niệm “Nghiên cứu nghề của một dân tộc cũng chính là nghiên cứu nền văn minh vật chất của dân tộc đó”, ông đã cùng một họa sĩ làm việc tích cực và khoa học: Oger lập dàn ý ghi chép trên cơ sở trao đổi với người An Nam, sau đó trao cho họa sĩ, khi bức vẽ hoàn thành lại được đưa cho những người An Nam “có đầu óc phê phán tốt” để thẩm định bình luận. Mỗi bức tranh đều kèm một số chữ Hán, Nôm ghi tiêu đề hoặc chú thích ngắn gọn nội dung.
Ðiều thú vị là chính Henri Oger lập xưởng khắc gỗ, in ấn ở phố Hàng Gai để xuất bản công trình của mình.
Lần xuất bản đầu tiên ấy có số lượng ấn bản quá ít, chỉ không quá 60 bản, theo ghi nhận của Philippe Le Failler và Olivier Tessier – Viện Viễn Ðông Bác Cổ Pháp. Cho nên trước lần tái bản vào tháng 6-2009, bộ sách quan trọng này cực kỳ quý hiếm ở Việt Nam, chỉ có hai bản được biết đến: một ở Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM và một ở Thư viện Quốc gia Hà Nội.
Lần tái bản này sách được bổ sung tiểu sử của Henri Oger, bài nghiên cứu về dạng các chữ được sử dụng trong sách, và điểm quan trọng là cung cấp cho độc giả bản dịch sang quốc ngữ của toàn bộ tiêu đề và ghi chú bằng chữ Hán Nôm trong bản gốc.

Hộp đựng sách

Quyển 1

Quyển 2

Quyển 3

Các bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp – Alain Guillemin

Người ta thống kê được 11 bản dịch đầy đủ Truyện Kiều sang tiếng Pháp, bản đầu tiên vào năm 1884, bản cuối cùng vào năm 1999. Mặt khác, Truyện Kiều đã được chuyển ngữ sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ả Rập (từ bản dịch tiếng Pháp), tiếng Bulgari, tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Hy Lạp, tiếng Hungari, tiếng Ba Lan, tiếng Rumani, tiếng Nga, tiếng Slovaquia và tiếng Thuỵ Điển.

Tiếp cận việc dịch một tác phẩm văn học trong viễn cảnh xã hội học cho phép chúng ta đặt ra những câu hỏi nhằm tìm hiểu các động cơ giao tiếp giao văn hoá: Ai dịch? Dịch sách gì? Các tác phẩm nào được chú trọng? Các bản dịch tác phẩm văn học thường đáp ứng các nhu cầu nào? Ai đọc các bản dịch đó? Việc phổ biến các dịch phẩm đó được thực hiện thông qua những con đường nào? Tác động trước mắt và lâu dài của dịch thuật đối với xã hội ra sao? Các dịch giả thường nhắm đến các công chúng độc giả nào? Họ muốn truyền đạt điều gì cho độc giả Pháp? Độc giả Pháp tiếp nhận các dịch phẩm đó ra sao?


Các bản dịch truyện Kiều sang tiếng Pháp có thể được chia thành ba hệ thống dịch văn học Việt nam sang tiếng Pháp: Hệ thống Đông phương học, Hệ thống yêu nước và hệ thống đông đảo công chúng.

Bản dịch Truyện Kiều đầu tiên (1884) là của Abel des Michels (1833-1918). Abel des Michels là cử nhân Luật, bác sĩ tại các bệnh viện Paris vào năm 1857. Ông cũng theo học các khoá học tiếng Trung. Ông mở lớp dạy tiếng Việt miễn phí tại Trường thực hành Sorbonne vào năm 1869, đây cũng là năm ông trở thành giảng viên tiếng Việt đầu tiên tại Trung tâm Ngôn ngữ Đông phương. Sau một thời gian làm giáo sư biên chế, ông từ chức vào năm 1892. Bản dịch Truyện Kiều sang thể thơ tự do của ông là bản dịch của một chuyên gia đông phương học, được xuất bản tại Pháp thành 3 tập, có chú giải rất phong phú. Nhưng có đúng ông là dịch giả duy nhất không? Chúng ta có quyền nghi ngờ: ông chưa bao giờ sang Việt nam và luôn để cho các trợ giảng phụ trách việc dạy tiếng Việt thực hành còn mình thì thuyết trình về ngôn ngữ, chưa chắc ông đã nói được tiếng Việt. Mặt khác, từ năm 1873, ông nhượng ghế giáo sư tiếng Việt cho Michel Duc Chaigneau, trợ giảng từ năm 1869. Hơn nữa, cuốn Đối thoại tiếng Việt chỉ lấy lại bản do một nhà truyền giáo ghi lại, nhà truyền giáo này tên là Pignaud de Behaine. Đồng dịch giả, cũng có thể là người dịch thật sự có thể là nhà nho Trần Nguyên Hành. Ông Hành đã tốt nghiệp cử nhân luật tại Paris và là trợ giảng cho giáo sư tiếng Việt tại Trung tâm ngôn ngữ đông phương từ năm 1879 đến năm 1882. Có thể ông được Michel Duc Chaigneau giúp đỡ. Chaigneau là một người rất giỏi tiếng Việt, được nuôi dạy tại Triều đình Huế với tư cách là con trai của Sỹ quan Hải quân Jean-Baptiste Chaigneau (1769-1832) và được vua Gia long nhận làm con nuôi bởi Chaigneau đã giúp nhà vua củng cố quyền lực.

Bản dịch Truyện Kiều đầy đủ thứ hai xuất hiện tại Pháp năm 1925. Dịch giả bản dịch này có bút danh là Thu Giang, tên thật của dịch giả này được tiết lộ trong lần xuất bản thứ hai năm 1926 : Léo Massé. Léon Massé vốn là một sỹ quan hải quân, đã từng phục vụ tại Đông dương. Nhưng đến lúc này chúng tôi vẫn chưa tìm được hồ sơ của ông. Trong phần mở đầu, bản in tháng 11 năm 1915, dịch giả này nõi rõ đó là bản phóng tác sang văn xuôi chứ không phải bản dịch. Chỉ khi nào chúng ta tìm hiểu thêm thì mới biết ông có biết tiếng Việt hay không, ông ta có cộng tác viên không và hai bản dịch này bán có chạy ở Pháp không.

Dịch giả thứ ba nổi tiếng hơn. Đó là René Crayssac (1883-1940). Sau khi tốt nghiệp Cử nhân luật (1903), Crayssac sang Đông Dương. Sau đó ông đăng lính tại Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa, thầy ký tại hải quan và ở các sở khác. Ông giải ngũ năm 1911 và trở thành viên cai trị tại Toà công sứ Bắc Kỳ. Tham gia tích cực vào các hoạt động văn học của địa phương, là nhà thơ, nhà văn tiểu luận, ông sáng lập tờ báo Plume rồi Pages Indochinoises (Trang Đông Dương) tại Hanoi. Năm 1926, ông xuất bản tại Việt nam bản dịch Kim Vân Kiều. Crayssac không những nhắm đến các chuyên gia mà còn nhắm đến một công chúng độc giả uyên bác. Điều này được thể hiện trong sự lựa chọn của ông : ông không chú thích, ông dịch Truyện Kiều thành thơ, thể alexandrin (12 âm tiết). Nhưng mong muốn của ông, là bản dịch đến với đông đảo công chúng độc giả, đã không được như ý vì chọn không đúng nhà nhà xuất bản: khi xuất bản tại Việt nam, bản dịch của ông chỉ đến với vài trăm thực dân có học thức và có quan tâm đến văn hoá và văn học Việt nam.

Người dịch Truyện Kiều mới đây nhất là, một người gốc Pháp, đó là thuyền trưởng Marcel Robbe. Ông xuất bản tại Hà Nội bản dịch Kim Vân Kiều mới sang tiếng Pháp, năm 1943, với bút danh là M.R. Đọc lời mở đầu sẽ cho chúng ta biết là ông rất am hiểu văn hoá Việt nam, nhưng như Léon Masset, chỉ có điều tra thì chúng ta mới biết cụ thể trình độ tiếng Việt của dịch giả này và trong quá trình dịch ông có cộng tác hay không.

Bên cạnh người Pháp và với sự động viên của người Pháp nhưng với động cơ riêng, với sự độc đáo và với khả năng ngôn ngữ rất tốt, các trí thức Việt nam cũng chú tâm vào dịch Truyện Kiều, người đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936). Là nhà báo, nhà văn tiểu luận, giám đốc các tạp chí, rồi dịch giả, Nguyễn Văn Vĩnh đã có công trong việc phát triển văn hoá Việt nam cũng như trong việc truyền bá văn hoá Pháp (Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch Ba chàng ngự lâm pháo thủ của A. Dumas và Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo. Bản dịch Kim Vân Kiều của ông xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1942. Đó là một bản dịch rất có giá trị, được tái bản thường xuyên, tiếc là chỉ tái bản ở Việt nam, chỉ được phổ biến ở Pháp trong các hiệu sách chuyên về Châu Á. Bản dịch của ông nhắm đến các độc giả chuyên gia vì ông chú thích rất nhiều. Ông dịch từng từ từng câu thơ sau đó mới đưa ra giải pháp dịch. Vì thế ông làm nổi bật các đặc tính văn chương của tiếng Việt và những khó khăn trong việc chuyển ngữ.

Cho dù mang quốc tịch Pháp, cho dù mang tên là Paul Schneider (1912-1998), dịch giả này, theo tôi, vừa là người Pháp vừa là người Việt. Ông sinh ra ở Hà Nội, bố mẹ đều là người lai Âu Á. Ông tốt nghiệp cử nhân luật. Sau đó ông làm trong các cơ quan hành chính Pháp. Nhưng bên cạnh đó, khi về hưu ông cho xuất bản một tác phẩm mà dựa vào đó các nhà đông phương học đánh giá ông như một trong những nhà Việt nam học lớn nhất. Bản dịch Kim Vân Kiều đầu tiên của ông, dưới bút danh là Xuân Phúc là bản dịch duy nhất có thể đến với đông đảo công chúng độc giả vì nó được xuất bản năm 1961 ở NXB Gallimard, trong bộ sưu tập Hiểu Biết Đông Phương, sau đó được tái bản nhiều lần. Trước khi mất ông đã sửa lại bản dịch hai lần, năm 1981 và năm 1986, nhưng chỉ được lưu hành nội bộ các nhà Đông phương học.

Vào năm 1965, Nguyễn Khắc Viện xuất bản bản dịch Kim Vân Kiều sang thể thơ tự do tại NXB Ngoại Văn. Nguyễn Khắc Viện sinh năm 1913, là thầy thuốc khoa nhi tốt nghiệp trường Đại học Hà nội. Từ năm 1952 đến 1964, ông phụ trách cộng đồng người Việt tại Pháp. Nguyễn Khắc Viện xuất bản vào năm 1965 một bản dịch rất có chất lượng nhưng bản dịch này nằm trong hệ thống dịch Pháp – Việt thứ hai, đó là hệ thống các dịch phẩm yêu nước. Đúng thế, trong lời giới thiệu bản dịch của mình, ông nói rõ đây là tác phẩm nằm trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt nam hiện nay: “Ngày nay, tại Việt nam dân chủ cộng hoà, một xã hội mới được sinh ra trên sự đổ nát của xã hội cũ… Trong vườn hoa này, truyền Kiều vẫn giữ được vị trí của nó, người Việt nam vẫn ngâm Truyện Kiều, yêu thích Truyện Kiều và giảng dạy Truyện Kiều… Với tác phẩm của mình, một tác phẩm có giá trị hiện thực rất lớn, Nguyễn Du có công vạch trần, tố cáo mạnh mẽ sự áp bức của chủ nghĩa phong kiến” (Nguyễn Khắc Viện, trang 10 và 11-19)

Hai bản dịch Truyện Kiều mới nhất thuộc hệ thống dịch phẩm khác, đó là hệ thống Pháp ngữ. Đúng thế, hai bản dịch này đã được xuất bản tại Việt nam với sự hỗ trợ của Đại Sứ Quán Pháp. Bản dịch đầu tiên, được dịch theo thể thơ alexandrin (12 âm tiết) là của Lê Cao Phán, xuất bản tại Hà Nội vào năm 1994. Bản dịch thứ hai là của Lưu Hoài, dịch sang thể thơ tự do, xuất bản năm 1999 cũng tại Hà Nội. Chúng ta có thể hiểu ý đồ của các cố vấn văn hoá Pháp: đó là giúp hai người Việt nam biết tiếng Pháp chuyển ngữ kiệt tác văn học Việt nam sang tiếng Pháp. Tuy nhiên, vì những bản dịch này chỉ được phổ biến tại Việt nam cho nên gặp phải vấn đề độc giả, người Việt biết tiếng Pháp vẫn thích đọc Kiều bằng tiếng Việt hơn.

Nguyễn Duy Bình dịch (Theo http://vanhoanghean.vn)

Sách lịch sử

1. Khâm định Việt sử cương giám thông mục
2. Lịch triều hiến chương loại chí – Tập 1
3. Nghiên cứu lịch sử Xứ Quảng số 1 -6 (2012)

Văn minh Việt nam – Lê Văn Siêu

Tựa sách: Văn minh Việt nam

Tác giả: Lê Văn Siêu

Nhà xuất bản: Nam Chi tùng thư. Sài Gòn năm 1964

Bút tích và chữ ký của tác giả

Việt Nam Văn minh sử lược khảo – Lê Văn Siêu

Tựa sách: Việt Nam Văn minh sử lược khảo (Tập Thượng)
Tác giả: Lê Văn Siêu
Xuất bản: Bộ Giáo dục – Trung tâm học liệu. Sài Gòn năm 1972

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.